Bệnh viêm khớp là gì?
Viêm khớp (Arthritis) là bệnh rất phổ biến nhưng chưa được hiểu rõ. Trên thực tế, “viêm khớp” không phải là một bệnh đơn thuần; đó là cách gọi thường dùng để chỉ tình trạng đau khớp hoặc bệnh khớp. Có hơn 100 loại viêm khớp khác nhau và tình trạng liên quan. Mọi người ở mọi lứa tuổi, giới tính và chủng tộc đều có thể bị viêm khớp, và đây là nguyên nhân hàng đầu gây ra tình trạng tàn tật ở Mỹ. Hơn 50 triệu người lớn và 300.000 trẻ em bị viêm khớp, thường gặp nhất ở phụ nữ và xảy ra thường xuyên hơn ở người lớn tuổi.

Các triệu chứng thường gặp của viêm khớp bao gồm sưng, đau, cứng khớp và giới hạn vận động. Các triệu chứng có thể đến và đi. Chúng có thể nhẹ, trung bình hoặc trầm trọng. Triệu chứng có thể giữ nguyên trong nhiều năm, nhưng cũng có thể tiến triển hoặc trở nên nặng hơn theo thời gian. Viêm khớp nặng có thể dẫn đến đau mãn tính, giới hạn hoạt động hàng ngày, đi bộ hoặc leo lên cầu thang trở nên khó khăn hơn. Viêm khớp có thể gây ra những thay đổi vĩnh viễn. Những thay đổi này có thể được nhìn thấy, chẳng hạn như biến dạng các khớp ngón tay, nhưng thường thì tổn thương chỉ có thể nhìn thấy trên phin X-quang. Một số loại viêm khớp, ngoài tổn thương tại khớp, còn ảnh hưởng đến các cơ quan khác như tim, mắt, phổi, thận và da.
Có nhiều loại viêm khớp khác nhau:
Viêm khớp thoái hóa
Thoái hóa khớp là loại viêm khớp phổ biến nhất. Khi sụn – bề mặt trượt, đệm trên đầu xương – bị bào mòn, xương cọ xát vào xương, gây đau, sưng và cứng khớp. Theo thời gian, khớp có thể bị mất sức mạnh và đau có thể trở thành mãn tính. Các yếu tố nguy cơ bao gồm quá cân, tiền sử gia đình, tuổi tác và chấn thương trước đây (rách dây chằng chéo trước chẳng hạn).

Thoái hóa khớp gối
Triệu chứng của thoái hóa khớp nhẹ hoặc trung bình có thể được quản lý bằng cách:
- Cân bằng vận động và nghỉ ngơi
- Sử dụng các liệu pháp nhiệt (nóng và lạnh)
- Tập thể dục thường xuyên
- Duy trì cân nặng hợp lý
- Tăng cường cơ xung quanh để hỗ trợ khớp
- Sử dụng các thiết bị hỗ trợ
- Uống thuốc giảm đau hoặc thuốc kháng viêm không kê toa
- Tránh những vận động lặp đi lặp lại quá mức
Nếu các triệu chứng tại khớp trở nên nghiêm trọng hơn, gây hạn chế vận động và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, một số chiến lược quản lý ở trên có thể hữu ích, nhưng cũng có thể cần phải thay khớp.
Viêm khớp liên quan đến miễn dịch
Một hệ thống miễn dịch khỏe mạnh có chức năng bảo vệ. Nó tạo ra phản ứng viêm bên trong cơ thể để loại bỏ nhiễm trùng và ngăn ngừa bệnh tật. Nhưng hệ thống miễn dịch có thể bị khiếm khuyết, tấn công nhầm lẫn các khớp gây ra tình trạng viêm không kiểm soát, có thể gây xói mòn khớp và có thể làm tổn thương các cơ quan nội tạng, mắt và các bộ phận khác của cơ thể. Viêm khớp dạng thấp và viêm khớp vẩy nến là những ví dụ về viêm khớp liên quan đến miễn dịch. Các nhà nghiên cứu tin rằng sự kết hợp của di truyền và các yếu tố môi trường có thể kích hoạt tình trạng tự miễn. Hút thuốc lá là một ví dụ về một yếu tố nguy cơ môi trường có thể kích hoạt viêm khớp dạng thấp ở những người có gien nhất định.

Khớp bình thường và viêm khớp dạng thấp
Với các loại viêm khớp liên quan đến miễn dịch, chẩn đoán sớm và điều trị tích cực là rất quan trọng. Làm chậm hoạt động của bệnh có thể giúp giảm thiểu hoặc thậm chí ngăn ngừa tổn thương vĩnh viễn. Sự thoái lui bệnh là mục đích có thể đạt được thông qua việc sử dụng một hoặc nhiều loại thuốc được gọi là các thuốc chống thấp khớp có thể làm thay đổi bệnh (DMARDs). Mục tiêu điều trị là làm giảm đau, cải thiện chức năng khớp, và ngăn ngừa tổn thương khớp thêm.
Viêm khớp nhiễm trùng
Vi khuẩn, virus hoặc nấm có thể xâm nhập vào khớp và gây viêm. Ví dụ về các sinh vật có thể gây nhiễm trùng khớp là salmonella và shigella (ngộ độc thực phẩm hoặc ô nhiễm), chlamydia và lậu cầu (bệnh lây truyền qua đường tình dục) và viêm gan C (lây qua đường máu, thường là qua kim tiêm hoặc truyền máu). Trong nhiều trường hợp, sử dụng kịp thời kháng sinh có thể điều trị khỏi viêm khớp nhiễm trùng, nhưng đôi khi viêm khớp trở nên mãn tính.
Viêm khớp liên quan đến chuyển hóa
Uric acid được hình thành khi cơ thể phân hủy purine, một chất được tìm thấy trong tế bào người và trong nhiều loại thực phẩm. Một số người có nồng độ acid uric cao vì chúng sản sinh ra nhiều hơn mức cần thiết hoặc cơ thể không thể đào thải acid uric đủ nhanh. Ở một số người, acid uric tích tụ và hình thành các tinh thể giống đầu kim trong khớp, dẫn đến đột ngột đau khớp dữ dội, còn gọi là cơn gút cấp. Gút có thể xuất hiện và biến mất từng đợt hoặc, nếu nồng độ acid uric không giảm, nó có thể trở thành mãn tính, gây ra tình trạng đau tiếp diễn và tàn tật.

Khớp khỏe mạnh và gút
Chẩn đoán viêm khớp
Viêm khớp thường được chẩn đoán bới các bác sĩ chăm sóc ban đầu. Họ thực hiện thăm khám, có thể làm xét nghiệm máu và chụp hình khớp để xác định loại viêm khớp. Cần phải có bác sĩ chuyên khoa về khớp nếu chẩn đoán không chắc chắn hoặc viêm khớp có liên quan đến miễn dịch. Các chuyên gia về khớp thường quản lý điều trị liên tục cho loại viêm khớp liên quan đến miễn dịch và các trường hợp phức tạp khác. Bác sĩ phẫu thuật chỉnh hình làm phẫu thuật khớp, trong đó có thay khớp. Khi viêm khớp ảnh hưởng đến các cơ quan khác của cơ thể, các chuyên gia khác, chẳng hạn như bác sĩ nhãn khoa, bác sĩ da liễu hoặc nha sĩ, cũng có thể tham gia điều trị.
Làm gì khi bị viêm khớp?
Có rất nhiều thứ có thể thực hiện để duy trì chức năng khớp, khả năng vận động và gia tăng chất lượng cuộc sống. Tìm hiểu về bệnh và các phương pháp điều trị, dành thời gian cho hoạt động thể chất và duy trì cân nặng hợp lý là rất cần thiết.