Viêm thượng củng mạc

1.  Viêm thượng củng mạc là gì

Viêm thượng củng mạc là tình trạng viêm vùng mô giữa phần trắng của mắt (còn gọi là củng mạc) và phần màng bao bọc mắt (còn gọi là kết mạc). Bệnh thường xảy ra ở những người trẻ, thường ở nữ giới, nhiều hơn ở lứa tuổi 40.

Viêm thượng củng mạc là bệnh viêm lành tính đặc trưng bởi phù và thâm nhiễm tế bào của tổ chức thượng củng mạc. Được điều trị hoặc không, bệnh sẽ tự giới hạn sau ít ngày, mặc dù bệnh có thể tái phát trong nhiều năm nhưng không bao giờ gây tổn hại tới mắt. Trong hai phần ba các trường hợp, bệnh được coi là không có căn nguyên.

2. Triệu chứng

Dễ nhận thấy của bệnh viêm thượng củng mạc là cảm giác khó chịu như:

  • Kích thích, cộm, nóng,
  • Dấu hiệu chủ yếu là đỏ mắt, có thể ở một khu vực hoặc lan tỏa toàn bộ thượng củng mạc. Đỏ mắt có mức độ khác nhau có thể hồng nhẹ hoặc đỏ tươi nhưng không có sắc xanh nhạt của viêm củng mạc. Viêm thượng củng mạc không bao giờ phát triển thành viêm củng mạc.

Trường hợp bệnh nặng có thể phù mi nhẹ, co thắt cơ nội nhãn gây co đồng tử và cận thị tạm thời. Triệu chứng khác gồm có chảy nước mắt và sợ ánh sáng nhẹ.

3. Phân loại viêm thượng củng mạc

Viêm thượng củng mạc có thể được chia làm hai loại chính là viêm thượng củng mạc đơn thuần và viêm thượng củng mạc nốt. Hai loại này có tính chất giống nhau, chỉ  khác về thời điểm xuất hiện triệu chứng, vị trí tổn thương, tiến triển lâm sàng.

3.1.  Viêm thượng củng mạc đơn thuần:

  • Hay gặp hơn so với viêm thượng củng mạc nốt. Vùng viêm đỏ, phù và cương tụ tỏa lan sau đó giảm dần trong thời gian từ 5 đến 60 ngày.
  • Các đợt viêm thường tự giới hạn và hết không cần điều trị. Tái phát trên cùng một mắt hoặc ở mắt khác, tại cùng vị trí hoặc nơi khác có thể xảy ra trong vòng hai tháng. 60% bệnh nhân viêm thượng củng mạc đơn thuần bị tái phát trong vòng 3 đến 6 năm sau khi bị bệnh.

3.2. Viêm thượng củng mạc nốt:

  • Đỏ xuất hịên từ từ hơn trong vòng 2-3 ngày, có nốt viêm màu đỏ sẫm kích thước 2 – 6 mm với cương tụ xung quanh nhẹ hơn, kết mạc bên trên có thể di động so với củng mạc. Khi nốt viêm tiến triển mạn tính trở nên phẳng, nhạt màu hơn và mất hẳn sau 4 – 6 tuần. Khi nốt viêm mất đi, vùng củng mạc bên dưới vẫn bình thường.
  • Nếu như có mỏng củng mạc thì cần phải nghi ngờ có viêm củng mạc. Tái phát có thể xảy ra trên cùng mắt hoặc trên mắt kia, ở cùng vị trí hay ở vị trí khác, đôi khi có thể có vài nốt viêm cùng xảy ra. Cần chẩn đoán phân biệt viêm thượng củng mạc nốt với viêm kết mạc bọng và viêm củng mạc bằng khám trên đèn khe.

4. Nguyên nhân gây bệnh viêm thượng củng mạc

Cho đến nay, viêm thượng củng mạc vẫn chưa tìm được nguyên nhân rõ ràng. Tuy nhiên, một số bệnh nhân có liên quan đến các bệnh lý toàn thân như viêm khớp dạng thấp, viêm cột sốt dính khớp, bệnh lupus hệ thống, nhiễm trùng đường ruột, bệnh gout, nhiễm trùng do vi khuẩn hay virus như bệnh giang mai, bệnh zona…

5. Điều trị bệnh viêm thượng củng mạc

Viêm thượng củng mạc toả lan đơn thuần không điều trị cũng sẽ tự khỏi mà không để lại di chứng. Thuốc tra có corticoid không chỉ có hại do tác dụng phụ của chúng mà còn làm quá trình bệnh kéo dài hơn, tỷ lệ tái phát cao hơn sau khi ngừng thuốc và hiệu ứng bùng nổ bệnh làm cho bệnh nặng hơn khi tái phát.

  • Bs. Giang Tú – Giám Đốc Y Khoa
  • Bs. Đặng Trịnh Cao Triệu – Phòng Chuyên Môn Y
  • Quản Trọng Quốc Huy – Phòng Chăm Sóc Khách Hàng
  • Trần Thị Thanh Thùy – Ban Sự kiện Truyền Thông