Nhiễm trùng đường tiểu: Cơ hội cho các dược sĩ làm công tác lâm sàng và quản lý

Nhiễm trùng đường tiểu (UTI) là bệnh thường gặp ở các cơ sở khám chữa bệnh ngoại trú. Một lượng lớn kháng sinh được dùng trong công tác điều trị  bệnh này đã tạo ra một gánh nặng cho hệ thống chăm sóc sức khoẻ. Đây là cơ hội cho các dược sĩ dược lâm sàng xem xét, nghiên cứu và đưa ra những khuyến cáo về thuốc và thời gian điều trị nhằm hạn chế việc sử dụng kháng sinh không cần thiết.

Sư hiện diện của các triệu chứng là một khía cạnh quan trọng trong việc chẩn đoán nhiễm trùng đường tiểu. Khi một người không có các dấu hiệu nhiễm trùng nhưng có một số lượng đáng kể các vi khuẩn cư trú trong đường tiết niệu, thì tình trạng này được gọi là nhiễm trùng đường tiết niệu không triệu chứng. Trong trường hợp này, việc điều trị không được khuyến cáo vì làm gia tăng tình trạng kháng thuốc do sử dụng kháng sinh không cần thiết. Tuy nhiên, nguyên tắc trên cũng có một số trường hợp ngoại lệ như:

  • Phụ nữ mang thai
  • Người bệnh sắp phải thực hiện thủ thuật, phẫu thuật tiết niệu có thể làm chảy máu niêm mạc như phẫu thuật soi cắt u tuyến tiền liệt qua niệu đạo.

Các triệu chứng nhiễm trùng có thể thay đổi tùy theo vị trí đường tiết niệu dưới hoặc trên. Ví dụ trong trường hợp viêm nhiễm đường tiết niệu trên như viêm đại tràng mãn tính, bệnh nhân có thể có những dấu hiệu như viêm bàng quang, đau ở bên sườn, sốt, ớn lạnh, buồn nôn.

Xét nghiệm tổng phân tích nước tiểu thường được dùng trong chẩn đoán nhiễm trùng đường tiểu. Khi dương tính, thông số Leukocyte có giá trị dự đoán dương tính (positive predictive value  -PPV) khoảng 50% (43-56%) trong việc phát hiện bệnh nhiễm khuẩn đường tiết niệu, kết quả nitrite dương tính có giá trị PPV khoảng 65% (50-83%) trong xác định nhiễm trùng. Một thông số quan trọng khác trong xét nghiệm tổng phân tích nước tiểu là thông số đếm bạch cầu (WBC). Thông thường, lượng bạch cầu tăng gấp 5-7 lần khi có mủ trong đường tiết niệu. Mủ xuất hiện khi có viêm nhiễm do nhiểu nguyên nhân bao gồm nhiễm trùng và tổn thương thận cấp tính. Khi người bệnh được chẩn đoán nhiễm trùng đường tiểu, phương pháp điều trị sẽ được lựa chọn dựa trên hiện trạng của bệnh: phức tạp hay đơn giản. Nhìn chung, các trường hợp đơn giản có thể điều trị trong thời gian ngắn hơn so với các trường hợp phức tạp (ví dụ: 3 ngày so với 7 ngày). Hầu hết các trường hợp nhiễm trùng đơn giản có liên quan đến vi khuẩn gram âm Escherichia coli (75%-95%) vì vậy không cần dùng kháng sinh dành cho gram dương. Ví dụ: một bệnh nhân được kê đơn vancomycin và ceftriaxon để điều trị nhiễm trùng tiết niệu, dược sĩ có thể khuyến cáo không sử dụng vancomycin vì khó có khả năng do vi khuẩn gram dương gây ra.

Thuốc điều trị đầu tay cho trường hợp nhiễm trùng tiểu đơn giản bao gồm:

  • Nitrofurantoin 100 mg uống hai lần/ngày trong 5 ngày;
  • trimethoprim/sulfamethoxazole 800mg + 160mg 1 viên/hai lần một ngày trong 3 ngày, nếu tình trạng kháng thuốc ở địa phương thấp hơn 20%;
  • Fosfomycin 3g một lần duy nhất.

Nếu không thể sử dụng các thuốc đầu tay, có thể sử dụng beta-lactam dạng uống như cefdinir hoặc cefpodoxime với thời gian kê đơn từ 3 đến 7 ngày hoặc một thuốc nhóm fluoroquinolone (FQ) (thường được sử dụng trong các guideline là ciprofloxacin, ofloxacin, và levofloxacin) trong 3 ngày. Do tác dụng phụ và làm tăng nguy cơ nhiễm Clostridium difficile, các fluoroquinolone chỉ nên dùng khi người bệnh không thể dùng được các kháng sinh khác. Nếu kê toa FQ , nên ưu tiên sử dụng ciprofloxacin 250 mg uống 2 lần/ngày trong 3 ngày hơn là sử dụng levofloxacin, do Levoflocacin có phổ diệt khuẩn hẹp hơn.

Đối với nhiễm trùng tiểu phức tạp như trường hợp nhiễm trùng do đặt catheter, thời gian điều trị thường tự 7 đến 14 ngày, tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng. Nên lựa chọn thời gian điều trị ngắn nhất có thể nếu tình trạng nhiễm trùng nhẹ hoặc người bệnh đáp ứng tốt việc điều trị. Khuyến cáo của Hiệp hội các bệnh truyền nhiễm Hoa Kỳ (Infectious Diseases Society of America) về điều trị nhiễm trùng  do đặt catheter cho rằng nên xem xét sử dụng levofloxacin 750 mg đường tĩnh mạch hoặc uống hàng ngày trong 5 ngày đối với hầu hết trường hợp nhiễm trùng nhẹ.Nếu người bệnh được chẩn đoán bị nhiễm trùng do đặt catheter, nên rút ống catheter càng sớm càng tốt hoặc thay thế bằng ống mới.

https://www.medicalnewstoday.com/articles/320584.php

  • Bs. Giang Tú – Giám Đốc Y Khoa
  • Bs. Đặng Trịnh Cao Triệu – Phòng Chuyên Môn Y
  • Ds. Lê Vũ Hồng Hải – Phòng Dược & Xét Nghiệm
  • Quản Trọng Quốc Huy – Phòng Chăm Sóc Khách Hàng
  • Từ Tôn Quý – Ban Sự kiện Truyền Thông
  • Trần Thị Bích Lê – Ban Sự kiện Truyền Thông